* Tác dụng của dược liệu Bạch chỉ:
Theo y học cổ truyền
Theo Đông y, bạch chỉ có vị cay, tính ôn, vào 3 kênh phế, vị, đại tràng. Dược liệu có tính giải biểu, khu phong, thắng thấp, hoạt huyết để loại mủ, sinh cơ, giảm đau, làm thần kinh trở nên hưng phấn, khí huyết lưu thông mau chóng nên được dùng để điều trị nhức đầu, răng đau, các bệnh về đầu, mặt, chữa huyết trắng, điều hòa kinh nguyệt.
Dược liệu còn được dùng giảm đau, hút mủ trong trường hợp sưng vú, ghẻ lở. Ngoài ra còn giảm đau trong nhức đầu, cảm mạo, hoa mắt, đau răng, hoặc cầm máu ở người chảy máu cam, đi tiêu ra máu.
Theo y học hiện đại
Tác dụng kháng khuẩn
Năm 1950, Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tân đã nghiên cứu và chứng minh được bạch chỉ có khả năng ức chế sự sinh trưởng của trực khuẩn E. coli, trùng lỵ Sonner, trực khuẩn mủ xanh và vi khuẩn tả.
Bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch đã cho thấy rằng cao chiết bạch chỉ ức chế sự phát triển của phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn tán huyết, tụ cầu vàng, trực khuẩn subtilis, trực khuẩn lỵ, tràng cầu khuẩn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn thương hàn.
Tác dụng hạ sốt, giảm đau
Cho thỏ bị gây sốt bằng pepton uống nước sắc bạch chỉ, thấy thỏ giảm sốt rõ rệt.
Tác dụng kháng viêm
Cho chuột bị gây phù chân bằng kaolin uống bạch chỉ với liều 10 g/kg cho thấy có hiệu quả giảm phù.
Tác dụng giảm co thắt cơ trơn hoặc bệnh suyễn
Trên thỏ, dịch chiết coumarin toàn phần của bạch chỉ có tác dụng làm giảm co thắt tử cung. Trên chuột co thắt phế quản do histamine, dịch chiết này cũng có tác dụng bình suyễn.
Tác dụng trên tim mạch
Thỏ sẽ bị chậm nhịp tim khi uống dung dịch coumarin toàn phần. Isoimperatorin gây hạ huyết áp trên mèo, ức chế co bóp tim ếch. Byakangelicin thì có tác dụng chống khối u.
Tác dụng lên thần kinh
Với liều nhỏ, angelicotoxin có tác dụng kích thích, gây hưng phấn trung khu vận động mạch máu, trung khu hô hấp và dây thần kinh phế vị làm giảm nhịp mạch, cao huyết áp, hơi thở kéo dài, nôn ói và chảy nước bọt.
Với liều lớn, angelicotoxin có thể gây co giật, toàn thân tê liệt.










